A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

Tấm gương Dân vận khéo trường MN Cốc Mỳ số 1

Cô giáo Vũ Thị Thúy tấm gương dân vận khéo của trường MN Cốc Mỳ số 1

Sinh ra và lớn lên ở huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái, ngay từ khi còn đi học chị Vũ Thị Thuý đã có ước mơ sau này mình sẽ trở thành cô giáo mầm non. Với sự nỗ lực cố gắng không ngừng của bản thân thì ước mơ ấy cuối cùng cũng trở thành sự thực. Trong khi các bạn cùng trang lứa đều lựa chọn công tác ở những vùng thuận lợi, gần gia đình, bạn bè, người thân thì chị lại chọn cho mình một vùng đất mới. Dẫu biết rằng bao khó khăn vất vả đang chờ ở phía trước nhưng một khi lòng đã quyết chị vẫn không ngần ngại xách ba lô đi lên với huyện Bát Xát thân yêu. Khi nhận quyết định về trường Mầm non Cốc Mỳ chị cũng không biết là nên vui hay nên buồn vì chị chưa biết ngôi trường ở xa hay gần, đường đi có thuận lợi hay không. Với một thoáng băn khoăn đó cũng không ngăn được tấm lòng nhiệt huyết, muốn được đến với các em học sinh thân yêu đang ngóng trông cô giáo từng ngày.

Cốc Mỳ lúc bấy giờ cũng là một xã khó khăn của Huyện Bát xát, có 17 thôn bản nằm rải rác với nhiều dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn. Chủ yếu là dân tộc H’mông, Dao,…. sống trên các rẻo núi cao. Giao thông đi lại khó khăn, kinh tế thì chưa phát triển, trình độ dân trí còn thấp. Tôi còn nhớ rất rõ vào một ngày đầu tháng 10, khi đang ở trên lớp dạy học tôi thấy thấp thoáng ngoài cổng trường một người phụ nữ đang đứng lấp ló ở cổng. Thấy tôi nhìn ra chị đã giơ tay vẫy tôi lại và hỏi: “Em ơi, cho chị hỏi đây có phải là trường Mầm non Cốc Mỳ không?”, tôi trả lời: “Đúng rồi chị ạ.”. Chị lại hỏi: “Chị được phân công về trường Mầm non Cốc Mỳ nhận công tác, em có thể dẫn chị vào gặp Ban giám hiệu được không?”. Tôi đã vui vẻ nhận lời và dẫn chị vào gặp cô hiệu trưởng. Không hiểu sao ngay từ lần đầu gặp chị tôi đã thấy cảm mến chị. Chị nhìn tuy không còn trẻ, dáng người dong dỏng nhưng rất hoạt bát, dễ gần. Và tôi biết chị kể từ hôm đó.

Những ngày đầu ở trường chị được ban giám hiệu phân cho một gian bên khu tập thể nhà trường. Phòng ở tuy không được rộng cho lắm nhưng cũng được chị bố trí sắp xếp rất gọn gàng, ngăn nắp. Chị được phân dạy cùng lớp với một cô giáo khác, vì mới ra trường nên chị còn rất nhiều bỡ ngỡ, chị thấy những kiến thức mình học được ở trong trường chỉ là một phần còn trên thực tế khi đi công tác chị thấy còn phải học hỏi nhiều hơn nữa. Do điều kiện của nhà trường có những điểm thôn vùng cao, có thôn vùng thấp và vào đúng thời điểm ấy, có một cô giáo trong trường đang dạy ở thôn vùng cao nhưng do điều kiện sức khỏe nên cô muốn xin xuống thấp để thuận tiện cho việc chữa bệnh. Và một lần nữa chị lại là người xung phong.

Ngày ấy, mới đi làm chị còn chưa có xe máy, chị xin đi nhờ cô giáo tiểu học ở cùng khu tập thể. Khác với mọi ngày, sáng thứ hai đầu tuần ấy chị dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị đồ đạc lên điểm trường Dìn Pèng. Cũng đã nghe các cô trong Ban giám hiệu, mọi người trong trường nói về điểm trường đó rồi nhưng khi đi rồi chị mới công nhận rằng đây là một điểm trường thật sự khó khăn. Chị không thể nghĩ đường đi lại xa và khó khăn đến vậy. Từ điểm trường chính lên đến thôn mất khoảng 8km nhưng toàn dốc đứng, đường bé đến nỗi hai xe máy tránh nhau không khéo có thể bị ngã, lại nhiều khúc cua. Chị ngồi sau xe máy mà có cảm giác tim như nhảy ra khỏi lồng ngực, có những đoạn đường chị phải nhắm mắt lại không dám nhìn vì một bên là đồi còn một bên là vực thẳm. Chỉ có mấy cây số thôi mà chị cứ tưởng là đang đi đến mấy chục cây số, dốc cao đi xe máy lúc nào cũng phải gằn số không đi nhanh được. Chị thấy đường đến điểm trường sao mà khó quá vậy.

Lên đến điểm trường điều đầu tiên đập vào mắt chị là hình ảnh ngôi trường có 3 gian nhà tre vách nứa, nền đất chỗ lõm chỗ phẳng, ở giữa sân có cột cờ. Nếu như không có cái cột cờ ấy thì chắc người ta cũng không nhận ra đó là trường học. Nó khác xa với những gì chị từng nghĩ và chị thấy mắt mình cay cay. Chị đang định quay bước ngược lại thì bỗng tiếng trẻ con: “Chúng con chào cô ạ” rất to đã khiến chị quay đầu lại. Nhìn các em nhỏ xíu, đôi mắt mở to ngơ ngác nhìn cô đã níu chân chị. Chị nhanh chóng cất ba lô và ngồi xuống trò chuyện cùng các con. Chị đã hỏi rất nhiều nhưng đáp lại chị chỉ là cái nhìn ngây ngô của con trẻ. Một lần nữa chị cảm thấy buồn và thất vọng. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu chị: “Có phải đây là lựa chọn sai lầm không?”.

Đêm đầu tiên trên bản vùng núi cao chị đã khóc, chị thấy hoang mang, lo lắng không biết cuộc đời mình sẽ ra sao. Thế nhưng, được sự động viên của gia đình, bằng tình yêu thương con trẻ, sự tâm huyết với nghề cuối cùng chị cũng dần quen với cuộc sống ở trên đó. Chị đã tự lên cho mình một kế hoạch công việc cần phải làm trong ngày và chị luôn cố gắng, nỗ lực hết mình để hoàn thành công việc theo kế hoạch. Đứng trước những khó khăn tưởng chừng như chùn bước ấy, chính sự hồn nhiên, vô tư của các em và tình cảm chan hòa, gần gũi của đồng bào dân tộc đã níu kéo chị gắn bó với nghề. Dù điều kiện còn có nhiều khó khăn, thiếu thốn thế nhưng tình cảm cô trò lại hết sức gắn bó, gần gũi. Vì thương các em không có quần áo rét để mặc, bản thân chị đã phải tận dụng quần áo cũ của con các cô giáo trong trường để đem đến cho các con. Những năm công tác tại trường, bản thân chị không thể nhớ nổi hết những ngày vất vả cùng với BGH nhà trường xuống từng nhà dân để tuyên truyền, vận động phụ huynh không cho con lên nương, lên rẫy mà hàng ngày phải đưa đón con đến trường để học cái chữ, sau này lớn lên trở thành người có ích, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Trong công tác chuyên môn chị luôn tích cực trau dồi kiến thức, chịu khó nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo để đưa ra phương pháp giảng dạy thu hút các con đến lớp, đến trường. Những em có hoàn cảnh khó khăn chị luôn ân cần, vỗ về chỉ bảo coi như những đứa con của mình. Trong công việc cũng như trong cuộc sống bản thân chị luôn gương mẫu và thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên, luôn tích cực tham gia mọi phong trào và hoạt động của nhà trường, hưởng ứng, đặc biệt là việc thực hiện tốt: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, và phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" do cấp trên phát động.

Bản thân chị luôn luôn cố gắng nỗ lực hết mình, ngoài việc tự học trau dồi thêm kiến thức cho bản thân thì chị còn tích cực làm đồ dùng đồ chơi tự tạo để phục vụ cho công tác giảng dạy. Ở trên thôn tuy còn nhiều khó khăn vất vả nhưng chị luôn tự nỗ lực cố gắng, từ những nguyên vật liệu có sẵn của địa phương để làm đồ dùng đồ chơi ngoài trời cho các con chơi sau mỗi giờ học, làm mô hình ngôi nhà, vườn rau,… cho các con quan sát, trải nghiệm.

Niềm vui, niềm hạnh phúc nhất của những người giáo viên đó là thấy sự trưởng thành của các con theo năm tháng. Phát huy tinh thần trách nhiệm của người giáo viên nhân dân, bằng tình thương yêu con trẻ, chị đã gieo vào lòng các con của mình những tình cảm yêu thương nhất, để mang tới cả một miền tri thức cho các con. Đáp lại tình thương yêu của chị, thế hệ học trò của chị luôn chăm ngoan, học giỏi, có ý thức hơn trong học tập. Chính từ chăm sóc, dậy bảo của chị mà các con đều chăm ngoan, lễ phép, đặc biệt là các con luôn cố gắng trong học tập để trở thành những con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ.

Bên cạnh vai trò là một cô giáo, người mẹ thứ hai của trẻ thơ, chăm lo cho các con từng bữa ăn, giấc ngủ thì chị như là một người bạn của bà con nhân dân. Sau mỗi ngày lên lớp, cứ chiều đến là chị lại đến nhà bà con nhân dân để tìm hiểu về cuộc sống của bà con nơi đây. Ở đây 100% là dân tộc Mông sinh sống, đàn ông con trai biết giao tiếp nhiều hơn phụ nữ nên việc giao tiếp với phụ nữ thường gặp rất nhiều khó khăn. Chị đã phải học tiếng dân tộc Mông để có thể trò chuyện với những người phụ nữ nơi đây. Điều này không chỉ giúp ích cho việc giao tiếp với cha mẹ trẻ mà còn giúp chị dễ dàng hiểu tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của các con. Đối với trẻ em nơi đây, thì Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, không phải tất cả trẻ đều biết tiếng Kinh, đều hiểu lời cô giáo nói nên có đôi lúc chị phải giao tiếp với các con bằng tiếng mẹ đẻ của chúng thì mới biết các con muốn gì, làm gì để có thể đáp ứng những nhu cầu chính đáng của trẻ. Nhưng thứ ngôn ngữ ấy chị chỉ sử dụng khi cần thiết còn hàng ngày chị luôn giao tiếp với các con bằng Tiếng Việt. Trẻ dân tộc Mông có đặc điểm là hay nói ngọng nên chị luôn cố gắng sửa cho các con ở mọi lúc mọi nơi, dạy các con Tiếng Việt thông qua những bài thơ, câu chuyện, bài hát ru,…để làm hành trang giúp các con tự tin, mạnh dạn hơn.

  • gần dân, sống gần dân chị mới thấu hiểu hết nỗi vất vả của người dân nơi đây. Trình độ dân trí thấp, đường xá đi lại khó khăn nên khả năng nhận thức của người dân còn hạn chế. Họ không có kiến thức về kế hoạch hóa gia đình, kiến thức về nuôi dạy con cái, kiến thức về chăn nuôi trồng trọt,…nên trên đây vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu, vẫn có tình trạng tảo hôn, sinh con thứ ba,…Và chị tự ý thức được rằng mình cần phải làm gì đó giúp cho bà con nơi đây bớt nghèo, bớt khổ, con cái được học hành tử tế. Nghĩ là làm và chị ngày ngày đến nhà dân để trò chuyện, giảng giải cho bà con hiểu. Không chỉ dừng lại ở đó, chị tham gia họp thôn cùng bà con nhân dân để tuyên truyền, hướng dẫn bà con. Phối kết hợp với BGH nhà trường, cán bộ xã đến giải thích giúp bà con nhân dân thực hiện theo đúng chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát huy nét văn hóa bản sắc của dân tộc mình, loại bỏ hủ tục lạc hậu không còn phù hợp với cuộc sống mới. Dần dần chị đã tạo được niềm tin của học sinh cũng như phụ huynh nơi đây.

Thấm thoắt thời gian trôi đi chị cũng lập gia đình và sinh con, nhưng không phải vì thế mà tình yêu đối với nghề, với trẻ nhỏ trong chị vơi đi. Khi đã làm mẹ chị càng thấu hiểu tình cảm mình dành cho con trẻ, phải thật sự yêu thương chúng, quan tâm chúng thì mới tạo được niềm tin nơi các con. Bản thân chị là thế luôn luôn cố gắng nỗ lực hết mình. Ngay cả lúc này đây, khi về với điểm trường thuận lợi, tuy không còn thôn vùng cao nhưng chị vẫn xung phong dạy ở điểm trường có 100% con em dân tộc. Chị lúc nào cũng vậy, chăm lo cho các con từng li từng tí một. Hàng ngày các con đến lớp được sạch sẽ, được ăn ngủ đủ giấc và đặc biệt là được tham gia trải nghiệm các hoạt động vô cùng bổ ích và lý thú. Với lời dạy của Bác “Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”, chị luôn mong muốn để các cháu “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, rất nhiều những hoạt động ở trường lôi cuốn trẻ. Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho các bé cũng được chị quan tâm đặc biệt, chị đã vận động được phụ huynh đến nấu ăn trưa cho các con. Với phụ huynh chị luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn phụ huynh cách nhặt rau, băm thịt,…cách chế biến món ăn sao cho hấp dẫn với các con. Trong mỗi bữa ăn chị luôn động viên trẻ ăn hết suất, hỏi han trẻ ăn có ngon không và đặc biệt qua đó chị có thêm điều kiện hướng dẫn trẻ thói quen văn minh trong ăn uống, cách lấy đồ ăn và ăn ở nơi đông người sẽ thế nào?....

 

Có thể nói rằng, cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của bản thân chị thì trong những năm qua chất lượng giáo dục của lớp ngày càng được nâng lên. Tỷ lệ học sinh ra lớp đạt 100%, chất lượng giáo dục của lớp luôn nằm trong tốp đầu của trường, chị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bản thân chị cũng nhiều năm đạt danh hiệu lao động tiên tiến cấp huyện, là giáo viên dạy giỏi cấp huyện nhiều năm liên tục. Bản thân chị là tấm gương sáng để đồng nghiệp học tập và noi theo.

Với đức tính giản dị, gần gũi chan hòa, chị luôn được học trò, đồng nghiệp yếu quý, bản thân chị là tấm gương sáng về sự nỗ lực vượt khó vươn lên. Đuợc các thế hệ giáo viên trẻ yêu quý, trân trọng. Đối với các đồng nghiệp trẻ chị luôn trao đổi kinh nghiệm sư phạm trong truyền đạt, dậy dỗ các em học sinh. Từ những kinh nghiệm được chia sẻ giúp giáo viên trẻ yêu nghề và gắn bó với học sinh vùng cao, thêm gắn bó với công việc của mình.

Một mùa xuân nữa lại về, dẫu rằng trên con đường chinh phục những đỉnh cao của tri thức đối với các em học sinh vùng cao còn gặp nhiều khó khăn, thế nhưng dù con đường có chông gai đến đâu, có khó khăn đến nhường nào thì những người giáo viên cắm bản như chị vẫn luôn vượt qua khó khăn, thách thức ấy. Bởi đằng sau những khó khăn ấy là cả một tương lai tươi sáng đang chờ đón các em. Chúc chị có thật nhiều sức khỏe để tiếp tục có những đóng góp đối với sự nghiệp trồng người trên quê hương Cốc Mỳ, góp phần nâng cao dân trí đối với học sinh vùng sâu, vùng xa này


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 6
Tháng 10 : 151